image banner
Từ giống lúa HD16 đến mô hình giảm phát thải: Những bước chuyển mới trong sản xuất lúa Hải Phòng
Trong hai ngày 27 và 28/9/2026, tại xã Hồng Châu, thành phố Hải Phòng, liên tiếp diễn ra các hoạt động tham quan, đánh giá mô hình sản xuất lúa vụ Mùa năm 2026. Từ mô hình gieo cấy giống lúa HD16 đến các mô hình sử dụng phân bón đúng, hiệu quả cao, phát thải thấp, các hoạt động đã tạo diễn đàn để cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cùng trao đổi, đánh giá những giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất và hướng tới phát triển sản xuất lúa bền vững.

Đánh giá giống lúa mới ngay trên đồng ruộng

Sáng ngày 27/9/2026, tại cánh đồng thôn Văn Diệm, xã Hồng Châu, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm cùng Công ty TNHH Mầm Vàng tổ chức Hội nghị đầu bờ đánh giá hiệu quả mô hình gieo cấy giống lúa HD16 trong vụ Mùa năm 2026. Hội nghị là dịp đánh giá thực tế khả năng sinh trưởng, phát triển, chống chịu sâu bệnh, năng suất và chất lượng của giống lúa HD16, đồng thời trao đổi, định hướng khả năng mở rộng sản xuất trong thời gian tới.

Tham dự Hội nghị có lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng cùng đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; đại diện Phòng Kinh tế xã Hồng Châu, các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn xã cùng một số hộ nông dân trực tiếp tham gia mô hình. 

Tại Hội nghị, các đại biểu đã trực tiếp tham quan mô hình trên đồng ruộng, trao đổi với cán bộ kỹ thuật và các hộ nông dân về quá trình gieo cấy, chăm sóc, khả năng sinh trưởng, phát triển và chống chịu sâu bệnh của giống lúa HD16 trong điều kiện sản xuất thực tế.

Qua theo dõi cho thấy, giống lúa HD16 có nhiều đặc điểm phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương. Cây lúa sinh trưởng khỏe, thân cứng, khả năng chống đổ tốt, đáp ứng tốt điều kiện thâm canh. Đặc biệt, giống có khả năng kháng bệnh bạc lá khá tốt – một trong những đối tượng bệnh thường gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng lúa trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều của vụ Mùa.

Tại mô hình ở thôn Văn Diệm, giống HD16 sinh trưởng tương đối đồng đều, cây đứng, bộ lá gọn, khả năng phát triển tốt. Thời gian sinh trưởng trong vụ Mùa năm 2026 khoảng 105 ngày, phù hợp với cơ cấu mùa vụ và điều kiện sản xuất tại địa phương.

Theo đánh giá bước đầu, năng suất giống HD16 tại mô hình vụ Mùa năm 2026 ước đạt 63,5 tạ/ha. Đây là mức năng suất khá, cho thấy tiềm năng của giống trong điều kiện sản xuất đại trà nếu được bố trí thời vụ, mật độ và chế độ chăm sóc phù hợp.

Không chỉ có ưu điểm về năng suất và khả năng chống chịu, HD16 còn được đánh giá có chất lượng gạo tốt. Hạt gạo trong, cơm dẻo, thơm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng đối với các sản phẩm gạo có chất lượng. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm, từng bước chuyển sản xuất lúa từ mục tiêu chủ yếu về năng suất sang chú trọng đồng thời cả năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. 

Từ kết quả chọn tạo giống đến yêu cầu tổ chức sản xuất và tiêu thụ

Theo báo cáo của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, giống lúa HD16 đã được Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận lưu hành sản xuất tại Quyết định số 25/QĐ-TT-CLT ngày 22/01/2025. Giống được phép sản xuất tại các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Đồng bằng sông Hồng.

HD16 được chọn tạo bằng phương pháp lai kép kết hợp với lai backcross giữa giống lúa HT1 với dòng IRBB66 và dòng 238H. Trong quá trình chọn tạo, các nhà khoa học đã kết hợp phương pháp chọn lọc kiểu hình với sử dụng chỉ thị phân tử, qua đó lựa chọn được dòng HD16 mang các gen kháng bệnh bạc lá Xa7, Xa21 và gen thơm fgr.

Theo đặc điểm giống được Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm công bố, HD16 có thời gian sinh trưởng từ 129–135 ngày trong vụ Xuân và 103–110 ngày trong vụ Mùa; cây có kiểu hình gọn, chống đổ tốt, khả năng sinh trưởng và phát triển tốt. Năng suất đạt khoảng 62–80 tạ/ha trong vụ Xuân và 55–70 tạ/ha trong vụ Mùa. Về chất lượng, HD16 có chất lượng gạo tương đương giống HT1 trước khi cải tiến; đồng thời có khả năng kháng bệnh bạc lá, đạt điểm 3 trong điều kiện đánh giá nhân tạo.

Những đặc điểm trên cho thấy HD16 là kết quả của quá trình nghiên cứu, chọn tạo giống theo hướng kết hợp giữa năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu, phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất lúa theo hướng hiệu quả, an toàn và bền vững. 

Phát biểu tại Hội nghị, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng ghi nhận và tuyên dương những kết quả nghiên cứu, chọn tạo giống của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm trong thời gian qua, trong đó có giống lúa HD16. Việc nghiên cứu, chọn tạo được những giống lúa mới có năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu tốt có ý nghĩa thiết thực đối với sản xuất nông nghiệp, góp phần giúp nông dân có thêm lựa chọn về giống, nâng cao hiệu quả sản xuất.

Lãnh đạo Sở cũng đánh giá việc tổ chức các mô hình trình diễn, hội nghị đầu bờ có ý nghĩa quan trọng, giúp các nhà khoa học, cơ quan quản lý, địa phương và người sản xuất cùng trực tiếp đánh giá giống cây trồng trong điều kiện thực tế. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện quy trình kỹ thuật, xác định khả năng thích nghi và hiệu quả của giống trước khi xem xét mở rộng diện tích.

Để một giống lúa mới thực sự phát triển bền vững và được nông dân lựa chọn, việc đánh giá năng suất, chất lượng trên đồng ruộng mới chỉ là bước đầu. Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm cần tiếp tục quan tâm gắn kết chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu khoa học – sản xuất giống – tổ chức sản xuất – liên kết tiêu thụ sản phẩm; phối hợp với các đơn vị cung ứng giống để bảo đảm nguồn giống có chất lượng, ổn định, đồng thời chủ động kết nối với doanh nghiệp, cơ sở chế biến, đơn vị phân phối và tiêu thụ để xây dựng thị trường cho sản phẩm gạo HD16. 

Tiếp nối từ giống lúa đến giải pháp canh tác hiệu quả, giảm phát thải

Tiếp nối hoạt động đánh giá mô hình trên đồng ruộng, ngày 28/9/2026, cũng tại xã Hồng Châu, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng chủ trì, phối hợp với UBND xã Hồng Châu và UBND xã Tân An tổ chức Hội nghị tham quan, tổng kết, đánh giá hiệu quả Mô hình canh tác lúa sử dụng phân bón đúng, hiệu quả cao, phát thải thấp vụ Mùa 2026.

Hình ảnh các đại biểu thăm quan thực tế Mô hình tại thôn Văn Diệm, xã Hồng Châu

Tham dự Hội nghị có đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; đại diện Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) tại Việt Nam; lãnh đạo, chuyên viên Phòng Kinh tế, trưởng các thôn, đại diện hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và các hộ nông dân tham gia mô hình trên địa bàn xã Hồng Châu và xã Tân An; đại diện Công ty Cổ phần DAP Đình Vũ - Vinachem, Công ty TNHH Mầm Vàng cùng các đơn vị phối hợp. 

Nếu như hoạt động ngày 27/9 tập trung đánh giá khả năng thích nghi, năng suất, chất lượng và đặc điểm của một giống lúa mới thì các mô hình được đánh giá ngày 28/9 tiếp tục đặt trọng tâm vào phương thức canh tác, sử dụng phân bón hợp lý, cơ giới hóa, giảm chi phí đầu vào và từng bước giảm phát thải.

Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng đang đứng trước yêu cầu ngày càng cao về nâng cao hiệu quả kinh tế, sử dụng tiết kiệm vật tư đầu vào, bảo vệ môi trường và từng bước giảm phát thải khí nhà kính.

Trên cơ sở đó, vụ Mùa năm 2026, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật triển khai 03 mô hình với tổng quy mô 17 ha, trong đó 02 mô hình tại xã Hồng Châu và 01 mô hình tại xã Tân An, nhằm đánh giá đồng thời hiệu quả của các phương thức gieo cấy và công thức sử dụng phân bón, làm cơ sở tuyên truyền, hướng dẫn và từng bước nhân rộng trong sản xuất.

Các mô hình được xây dựng gắn với mục tiêu thực hiện Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”, tập trung vào sử dụng phân bón cân đối, hợp lý; giảm chi phí đầu vào; nâng cao hiệu quả kinh tế; đẩy mạnh cơ giới hóa và từng bước giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa. 

Đa dạng phương thức canh tác, cùng hướng đến hiệu quả

Tại xã Hồng Châu, mô hình thứ nhất được triển khai tại thôn Văn Diệm với giống lúa HDR7, quy mô 5 ha, áp dụng phương thức mạ khay, cấy máy, kết hợp sử dụng phân bón DAP Đình Vũ 16-44+S và một số loại phân khác.

Mô hình thứ hai tại thôn An Lý, xã Hồng Châu, quy mô 5 ha, sử dụng giống Nếp 415, cấy tay truyền thống và cũng sử dụng phân bón DAP Đình Vũ 16-44+S.

Tại xã Tân An, mô hình thứ ba được triển khai tại thôn Hữu Chung với quy mô 7 ha, sử dụng giống VNR20, áp dụng gieo thẳng bằng máy kết hợp vùi phân, trong đó sử dụng loại phân bón hỗn hợp NPK 20-10-10 của MTK. Đây là phương thức có khả năng giảm công lao động ở khâu gieo cấy, đồng thời đưa phân bón vào vùng rễ, góp phần hạn chế thất thoát và nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng.

Các mô hình đều được bố trí ruộng mô hình và ruộng đối chứng có điều kiện sản xuất tương đối đồng đều để theo dõi, so sánh các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, sâu bệnh, năng suất và hiệu quả kinh tế.

Qua theo dõi cho thấy, các giống lúa trong mô hình sinh trưởng, phát triển khá tốt. Phương thức mạ khay, cấy máy tại xã Hồng Châu giúp giảm đáng kể nhu cầu lao động trực tiếp, tạo mật độ cấy tương đối đồng đều và thuận lợi cho quản lý đồng ruộng. Trong khi đó, phương thức gieo thẳng bằng máy kết hợp vùi phân tại xã Tân An vừa giảm công lao động, vừa góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. 

Năng suất và hiệu quả kinh tế đều có tín hiệu tích cực

Một trong những kết quả đáng chú ý của mô hình là năng suất thực thu của cả 03 mô hình đều cao hơn ruộng đối chứng.

Mô hình gieo xạ bằng máy kết hợp vùi phân tại Tân An

Cụ thể, mô hình HDR7 mạ khay, cấy máy tại xã Hồng Châu đạt năng suất 232 kg/sào, trong khi ruộng đối chứng đạt 221 kg/sào. Mô hình Nếp 415 cấy tay đạt 213 kg/sào, cao hơn mức 197 kg/sào của ruộng đối chứng. Đối với mô hình VNR20 gieo thẳng bằng máy, kết hợp vùi phân tại xã Tân An, năng suất đạt 244 kg/sào, trong khi đối chứng đạt 232 kg/sào.

Mô hình cấy máy mạ khay tại Hồng Châu

Đặc biệt, kết quả hạch toán kinh tế cho thấy cả 03 mô hình đều có lợi nhuận cao hơn ruộng đối chứng.

Đối với mô hình HDR7 mạ khay, cấy máy, tổng chi phí sản xuất đạt 1,24 triệu đồng/sào, thấp hơn 150.000 đồng/sào so với đối chứng. Năng suất cao hơn giúp tổng thu tăng 88.000 đồng/sào; lợi nhuận đạt 616.000 đồng/sào, cao hơn đối chứng 238.000 đồng/sào, tương đương 6,611 triệu đồng/ha.

Cán bộ Chi cục báo cáo kết quả thực hiện Mô hình

Mô hình Nếp 415 cấy tay có tổng chi phí 1,35 triệu đồng/sào, thấp hơn đối chứng 6.000 đồng/sào; tổng thu cao hơn 144.000 đồng/sào. Lợi nhuận đạt 567.000 đồng/sào, cao hơn đối chứng 150.000 đồng/sào, tương đương 4,166 triệu đồng/ha. Kết quả này cho thấy ngay cả trong điều kiện vẫn duy trì phương thức cấy tay truyền thống, việc sử dụng phân bón đúng, cân đối và hiệu quả vẫn có thể góp phần giảm chi phí và nâng cao lợi nhuận.

Đáng chú ý, mô hình VNR20 gieo thẳng bằng máy kết hợp vùi phân tại xã Tân An có tổng chi phí thấp hơn đối chứng 320.000 đồng/sào, trong khi tổng thu cao hơn 96.000 đồng/sào. Lợi nhuận đạt 826.000 đồng/sào, cao hơn đối chứng 376.000 đồng/sào, tương đương 10,444 triệu đồng/ha. Đây là mô hình thể hiện rõ hiệu quả kết hợp giữa cơ giới hóa gieo cấy, giảm vật tư đầu vào và nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. 

Như vậy, tổng hợp cả 03 mô hình, mức chênh lệch lợi nhuận so với ruộng đối chứng đạt từ 150.000–376.000 đồng/sào, tương đương khoảng 4,166–10,444 triệu đồng/ha. Kết quả bước đầu cho thấy sử dụng phân bón đúng, hợp lý kết hợp với cơ giới hóa gieo cấy có khả năng mang lại hiệu quả kép: giảm chi phí đầu vào, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng đơn vị diện tích.

Giảm phát thải bắt đầu từ những thay đổi trên đồng ruộng

Một nội dung quan trọng được trao đổi tại Hội nghị là giảm phát thải trong sản xuất lúa không phải là vấn đề xa rời thực tiễn sản xuất, mà bắt đầu từ những giải pháp rất cụ thể.

Thông qua các mô hình, việc hạn chế bón thừa, đặc biệt là phân đạm; bón phân đúng thời điểm; cân đối dinh dưỡng; giảm lượng vật tư đầu vào; cơ giới hóa gieo cấy và vùi phân được xác định là những giải pháp có tính khả thi trong xây dựng mô hình sản xuất lúa theo hướng giảm phát thải.

Cùng với đó, công tác bảo vệ thực vật tại các mô hình được thực hiện theo nguyên tắc quản lý dịch hại tổng hợp, tăng cường điều tra, theo dõi đồng ruộng và chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi mật độ, tỷ lệ hại đạt ngưỡng; lựa chọn đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời điểm và bảo đảm thời gian cách ly. Việc sử dụng phân bón cân đối, chăm sóc cây lúa hợp lý cũng góp phần tạo điều kiện cho cây sinh trưởng khỏe, nâng cao khả năng chống chịu và hạn chế vật tư đầu vào không cần thiết.

Đại biểu tham dự phát biểu thảo luận

Từ kết quả mô hình đến định hướng nhân rộng

Tại các Hội nghị, các đại biểu đã trực tiếp tham quan mô hình, nghe báo cáo kết quả triển khai, đánh giá hiệu quả; đồng thời trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình tổ chức sản xuất.

Từ mô hình giống lúa HD16 tại thôn Văn Diệm đến các mô hình canh tác sử dụng phân bón đúng, hiệu quả cao, phát thải thấp tại Hồng Châu và Tân An, các hoạt động trong hai ngày 27–28/9 cho thấy việc nâng cao hiệu quả sản xuất lúa cần được tiếp cận đồng bộ, từ lựa chọn giống phù hợp, hoàn thiện quy trình kỹ thuật, sử dụng hợp lý vật tư đầu vào, cơ giới hóa sản xuất đến tổ chức liên kết và tiêu thụ sản phẩm.

Đối với giống HD16, kết quả mô hình vụ Mùa năm 2026 bước đầu cho thấy giống có khả năng thích nghi tốt với điều kiện sản xuất tại địa phương, sinh trưởng tương đối đồng đều, cứng cây, chống đổ tốt, kháng bệnh bạc lá và cho năng suất ước đạt 63,5 tạ/ha. Chất lượng gạo với hạt trong, cơm dẻo, thơm cũng là lợi thế để nghiên cứu phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Thời gian tới cần tiếp tục theo dõi, đánh giá HD16 qua nhiều vụ sản xuất, trên các chân đất và điều kiện canh tác khác nhau để có cơ sở xác định vùng sinh thái phù hợp, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả kinh tế của giống. 

Đối với các mô hình sử dụng phân bón đúng, cân đối và hiệu quả, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật nhấn mạnh, giảm phát thải cần được thực hiện đồng thời với giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vật tư và tăng lợi nhuận. Cơ giới hóa cũng cần gắn với tổ chức sản xuất, điều kiện đồng ruộng, quy mô diện tích và hệ thống dịch vụ máy móc phù hợp.

Bên cạnh những kết quả bước đầu, cần tiếp tục theo dõi, đánh giá trong các vụ sản xuất tiếp theo. Đặc biệt, việc định lượng phát thải khí nhà kính, trong đó có phát thải CH₄ (Metan) trên ruộng lúa, cần được tiếp tục đo đếm, hoàn thiện phương pháp và có thêm dữ liệu qua nhiều vụ để đánh giá ổn định và xác định khả năng nhân rộng. 

Hướng tới nền sản xuất lúa hiệu quả, chất lượng và bền vững

Kết quả của các mô hình tại xã Hồng Châu và xã Tân An bước đầu cho thấy, sản xuất lúa theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và giảm phát thải có thể bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể trên đồng ruộng: sử dụng giống phù hợp, sử dụng phân bón đúng và cân đối, giảm vật tư không cần thiết, đẩy mạnh cơ giới hóa, quản lý đồng ruộng tốt hơn và tổ chức sản xuất khoa học hơn.

Đại diện Lãnh đạo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật phát biểu tại Hội nghị

Đồng thời, cần tăng cường vai trò của hợp tác xã và doanh nghiệp trong tổ chức sản xuất theo vùng, xây dựng liên kết từ cung ứng vật tư, giống, hướng dẫn kỹ thuật đến thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền để người sản xuất và người tiêu dùng biết đến những giống lúa mới có chất lượng, từng bước hình thành thương hiệu và thị trường cho sản phẩm.

Việc tổ chức liên tiếp các hoạt động tham quan, đánh giá mô hình cũng tạo cầu nối giữa nhà khoa học – cơ quan quản lý – địa phương – hợp tác xã – nông dân – doanh nghiệp, góp phần đưa kết quả nghiên cứu khoa học và những tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất.

Đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển ngành trồng trọt hiện nay, trong đó sản xuất không chỉ dừng ở việc “trồng cây gì, năng suất bao nhiêu” mà cần quan tâm đến chất lượng, hiệu quả kinh tế, sử dụng hiệu quả nguồn lực và thị trường tiêu thụ. Kết quả các mô hình sẽ là cơ sở thực tiễn để tiếp tục tuyên truyền, hướng dẫn nông dân, hợp tác xã và địa phương áp dụng các giải pháp phù hợp, từng bước hình thành phương thức sản xuất lúa hiệu quả, tiết kiệm, thân thiện với môi trường và có khả năng nhân rộng trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật
QR Code
TIN MỚI NHẤT
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
  image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tháng: 0
  • Tất cả: 0