Hải Phòng tăng cường kết nối doanh nghiệp, phát triển vùng nguyên liệu nông sản gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm
Nhằm thúc đẩy liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, từng bước hình thành các chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững, buổi sáng ngày 15/10/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng tổ chức buổi làm việc với Công ty TNHH KSS Việt Nam, Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản thực phẩm Tân Hương và các đơn vị liên quan để trao đổi cơ hội hợp tác, đề xuất giải pháp liên kết, bao tiêu sản phẩm đối với các mặt hàng nông sản chủ lực của thành phố. Trong chương trình, đoàn công tác đã khảo sát thực tế vùng trồng hành, tỏi tại xã Nam An Phụ nhằm tìm hiểu điều kiện sản xuất, khả năng cung ứng nguyên liệu và định hướng hợp tác trong thời gian tới.

Phát huy tiềm năng, lợi thế vùng nguyên liệu nông sản
Tại buổi làm việc, các đại biểu tập trung trao đổi về tiềm năng sản xuất nông sản của Hải Phòng, nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến, tiêu thụ của doanh nghiệp và khả năng tổ chức liên kết giữa doanh nghiệp với địa phương, hợp tác xã và người sản xuất. Trên cơ sở đó, các bên cùng tìm kiếm giải pháp phát triển vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng sản phẩm, ổn định đầu ra và gia tăng giá trị nông sản.

Hải Phòng có cơ cấu sản xuất nông nghiệp đa dạng, với nhiều sản phẩm chủ lực có quy mô lớn, chất lượng và lợi thế thị trường. Theo số liệu ước tính năm 2026, diện tích gieo cấy lúa toàn thành phố đạt khoảng 154.615 ha, sản lượng thóc ước đạt 984.969 tấn; diện tích rau màu đạt khoảng 61.589 ha, trong đó rau các loại đạt khoảng 43.890 ha, sản lượng ước đạt hơn 1,15 triệu tấn. Diện tích cây ăn quả đang được chăm sóc, thu hoạch khoảng 27.900 ha, với sản lượng ước đạt 400.000 tấn/năm.
Đáng chú ý, thành phố có nhiều vùng sản xuất rau, củ, quả tập trung, cung cấp nguồn nguyên liệu phong phú cho hoạt động sơ chế, chế biến và tiêu thụ trên thị trường. Các sản phẩm như hành, tỏi, cà rốt, bắp cải, su hào, súp lơ, dưa các loại, vải, chuối và ổi đều có quy mô sản xuất đáng kể, trong đó một số sản phẩm đã hình thành vùng chuyên canh, có thương hiệu hoặc tham gia thị trường xuất khẩu.
Trong nhóm rau, củ, quả, hành, tỏi là những sản phẩm có nhiều lợi thế để phát triển liên kết chuỗi. Theo báo cáo chuyên ngành, diện tích hành, tỏi củ trên địa bàn thành phố đạt khoảng 7.603 ha, sản lượng ước tính theo số liệu tổng hợp khoảng 149.964 tấn. Sản xuất tập trung tại các vùng thuộc khu vực Kinh Môn và một số địa phương lân cận, trong đó có xã Nam An Phụ.
Hành, tỏi Hải Phòng có ưu thế về điều kiện sản xuất, kinh nghiệm canh tác của người dân và khả năng tổ chức sản xuất theo mùa vụ. Đặc biệt, so với nhiều loại rau tươi, hành, tỏi có thể phơi, sấy và bảo quản trong thời gian dài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tiết nguồn cung, giảm áp lực tiêu thụ tập trung ngay sau thu hoạch. Sản phẩm hành, tỏi khu vực Kinh Môn trước đây đã được xây dựng thương hiệu và cấp nhãn hiệu tập thể, tạo nền tảng để tiếp tục nâng cao giá trị và mở rộng thị trường.
Những lợi thế trên cho thấy việc kết nối doanh nghiệp với vùng sản xuất hành, tỏi không chỉ mở ra cơ hội tiêu thụ ổn định cho nông dân mà còn góp phần phát triển công nghiệp chế biến, nâng cao giá trị gia tăng và tăng sức cạnh tranh cho nông sản địa phương.
Khảo sát thực tế, tìm kiếm cơ hội hợp tác tại vùng trồng hành, tỏi

Sau buổi làm việc tại Sở Nông nghiệp và Môi trường, đoàn công tác đã đến khảo sát khu vực sản xuất hành, tỏi tại xã Nam An Phụ. Tại đây, đoàn tìm hiểu thực trạng sản xuất, điều kiện tổ chức vùng nguyên liệu, phương thức tiêu thụ sản phẩm và những thuận lợi, khó khăn của người dân trong quá trình sản xuất, kinh doanh hành, tỏi.

Việc khảo sát trực tiếp tại vùng sản xuất giúp doanh nghiệp có thêm thông tin thực tế để đánh giá khả năng cung ứng nguyên liệu, xác định yêu cầu về chất lượng, quy cách sản phẩm và định hướng tổ chức thu mua, sơ chế, bảo quản hoặc chế biến phù hợp với nhu cầu thị trường.
Đối với địa phương và người sản xuất, đây cũng là dịp để trao đổi với doanh nghiệp về yêu cầu của thị trường, phương thức hợp tác và khả năng tổ chức sản xuất theo đơn đặt hàng. Trên cơ sở nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và điều kiện của vùng nguyên liệu, các bên có thể nghiên cứu xây dựng phương án liên kết phù hợp, từng bước hình thành mối quan hệ hợp tác ổn định giữa sản xuất và tiêu thụ.
Thực tế cho thấy, một trong những yêu cầu quan trọng đối với phát triển vùng nguyên liệu hiện nay là phải gắn sản xuất với nhu cầu thị trường ngay từ đầu vụ. Việc xác định rõ sản lượng, chất lượng, thời điểm thu hoạch, phương thức sơ chế, bảo quản và tiêu chuẩn nguyên liệu sẽ góp phần hạn chế tình trạng sản xuất thiếu định hướng, tiêu thụ phụ thuộc vào thương lái hoặc biến động giá cả trong thời điểm thu hoạch tập trung.
Do đó, liên kết giữa doanh nghiệp với vùng trồng cần được xây dựng trên cơ sở hài hòa lợi ích, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế. Người sản xuất cần tuân thủ quy trình kỹ thuật, bảo đảm chất lượng và tính đồng đều của sản phẩm; doanh nghiệp cần xác định rõ nhu cầu, yêu cầu chất lượng và phương thức thu mua; chính quyền địa phương cùng các cơ quan chuyên môn có vai trò hỗ trợ kết nối, hướng dẫn kỹ thuật và tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai.
Hướng tới phát triển chuỗi giá trị nông sản bền vững
Từ kết quả trao đổi và khảo sát thực địa, việc tăng cường kết nối doanh nghiệp với các vùng nguyên liệu được xác định là hướng đi cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp của thành phố. Trọng tâm là phát huy lợi thế của từng vùng sản xuất, lựa chọn sản phẩm có tiềm năng, phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực tiếp nhận, chế biến của doanh nghiệp để xây dựng phương án liên kết cụ thể.
Cùng với hành, tỏi, Hải Phòng còn có nhiều sản phẩm có khả năng phát triển các chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Cà rốt có diện tích trên 1.359 ha theo số liệu năm 2025, sản lượng khoảng 66.294 tấn; khoảng 80% sản lượng phục vụ xuất khẩu. Nhóm bắp cải, su hào, súp lơ có diện tích gieo trồng khoảng 6.014 ha, sản lượng khoảng 222.571 tấn trong năm 2025. Đối với cây ăn quả, chuối và ổi có sản lượng lớn, thời gian cung ứng tương đối thuận lợi; vải thiều Thanh Hà đã có chỉ dẫn địa lý và tiếp cận nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng.
Đây là cơ sở để thành phố tiếp tục thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông sản, từ khảo sát vùng trồng, thống nhất yêu cầu sản phẩm đến tổ chức thu mua, sơ chế, chế biến và phát triển thị trường. Việc lựa chọn mô hình liên kết cần căn cứ vào đặc điểm từng sản phẩm, quy mô vùng nguyên liệu, thời vụ thu hoạch và khả năng bảo quản nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hạn chế tổn thất sau thu hoạch.
Về phía cơ quan quản lý nhà nước, Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục phát huy vai trò kết nối giữa doanh nghiệp với địa phương, hợp tác xã và người sản xuất; phối hợp với các đơn vị chuyên môn hướng dẫn quy trình kỹ thuật, nâng cao chất lượng nông sản và hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu theo hướng tập trung, an toàn, đáp ứng yêu cầu thị trường. Các địa phương cần chủ động rà soát diện tích, sản lượng, điều kiện sản xuất và khả năng liên kết của từng vùng; đồng thời tăng cường tuyên truyền, vận động người dân tham gia các hình thức hợp tác phù hợp.
Đối với doanh nghiệp, việc chủ động phối hợp với cơ quan chuyên môn và địa phương để khảo sát, đánh giá vùng nguyên liệu sẽ giúp xác định đúng tiềm năng, nhu cầu đầu tư và phương án hợp tác. Trên cơ sở kết quả khảo sát, các bên tiếp tục trao đổi, hoàn thiện nội dung liên kết cụ thể, hướng tới hình thành các mối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài và cùng có lợi.

Việc tổ chức làm việc, khảo sát vùng nguyên liệu nông sản tại xã Nam An Phụ là hoạt động thiết thực nhằm thúc đẩy kết nối cung – cầu, phát huy lợi thế sản xuất của địa phương và mở rộng cơ hội hợp tác với doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những hướng triển khai nhằm chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp đơn thuần sang phát triển kinh tế nông nghiệp gắn với thị trường, chế biến và nâng cao giá trị sản phẩm.
Thông qua tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà nông và doanh nghiệp, Hải Phòng hướng tới xây dựng các vùng nguyên liệu ổn định, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, phát triển nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.